Thuật ngữ dành cho bạn yêu Typography (H)
Tiếp tục tìm hiểu thuật ngữ của Typography. Bài này bắt đầu với chữ H.
Các từ này được xếp theo thứ tự ABC. Vì bài viết dài nên iDesign sẽ 1 tuần cung cấp cho bạn ít nhất số lượng từ của 1 chữ cái (ví dụ A gồm các từ Abrupt, Accent,.. B gồm Bar, Baseline…).
Những chữ được dịch đủ sẽ có link (thể hiện bằng màu xanh).
Click vào hình để xem lớn.
A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z
H
| hieroglyphics |
H/J (Hyphenation & Justification)
Hyphenation (Dấu gạch nối) & Justification (Sự căn hàng); Là việc xác định ngắt dòng nếu được phép và cần điểm gạch nối trong một từ. Ngoài ra nó còn là Hand J; Viết tắt của việc sắp chữ bằng tay.

Là phần mỏng nhất của một chữ. Ngoài ra một đường fine line hay rule, là đường mảnh nhất mà có thể in được trong in ấn.

Một dạng đơn giản hóa của kiểu chữ Uncial (kiểu chữ viết tay dùng trong văn bản từ thế kỷ 4-8). Nó xuất hiện khoảng thế kỷ thứ 6 khi kết hợp giữ kiểu Uncial và chữ thảo Roman. Hình thức chữ kiểu viết thường (lowercase) và bề ngang rộng.

Là một loại chữ viết tay trong sách tiếng Nga, được biết tới từ thế kỷ 14. Half-Ustav được viết nhanh hơn Ustav và chiếm vị trí của nó. Half-Ustav có x-height nhỏ, extender dài, phần mũi hơi cong và không có chân.
Cuốn "Apostle" in tại Moscow năm 1564 dùng chữ dựa trên chữ viết tay Half-Ustav. Kiểu chữ này được tạo ra bởi những người thợ in Nga, Fyodorov và Pyotr Mstislavets.. Sau đó Peter, một nghệ nhân chữ bắt đầu cải cách kiểu chữ này vào thế kỷ 18 để dùng trong cách cuốn sách cho nhà thờ.
Một số phông chữ tiếng Nga mới có dựa trên Half-Ultav.

1: Chữ viết tay; Để phân biệt trong in ấn, và nó là hình thức chữ có đặc điểm riêng của từng cá nhân. Mỗi cá nhân dù cùng một gia đình hay học cùng một giáo viên trong gia đình vẫn có những cách viết khác nhau.
Từ nhỏ các học sinh đã được học viết tay, thế nào gọi là chữ viết tay căn bản (manuscript ), các chữ được tập viết thường là từng chữ cái – giống như in, dẫn tới trục chữ thẳng và các chữ không có nét liền nhau.
Sau khi đã quen với việc viết các chữ căn bản, học sinh bắt đầu tập viết chữ thảo (cursive writing) – viết các chữ liền nhau, ngòi bút chuyển động liên tục, ít nâng lên khỏi mặt giấy và phần lớn trục chữ sẽ nghiêng sang phải.
Nói chung viết từng chữ (manuscript ) sẽ dễ đọc hơn là chữ thảo – viết liền tay, nhưng chữ thảo lại đạt được tốc độ cho việc viết tay.
Ngoài ra cũng có một loại cách điệu của nghệ thuật chữ gọi là Calligraphy (Dịch là Thư Pháp, tuy nhiên ở Việt Nam chúng ta từ Thư Pháp thường liên tưởng tới chữ cách điệu theo kiểu chữ Hán, nhưng đây chỉ là một kiểu của Calligraphy).
2; Là một kiểu phông chữ dành cho việc trang trí mà bắt chước chữ viết tay của ai đó hay phong cách Calligraphy. Những phông Handwriting tùy thuộc vào ngòi bút, bút bi, bút lông … Các chữ viết tay có thể có sự kết nối hoặc không, hay có thể có các hình thức kết nối trung gian.
Là phông chữ được thiết kế để nhìn tốt với việc dùng kích thước lớn để sử dụng cho tiêu đề (headline). Những phông dành cho Headline đôi khi không yêu cầu đầy đủ toàn bộ các ký tự của một bộ phông chữ đầy đủ. Thông thường kích thước dành cho Headline lớn hơn 14pt.

Một trong những hệ thống chữ viết. Những ký tự của nó (hieroglyphics – chữ tượng hình) là những hình tượng kết hợp với nhau nói lên giá trị hoặc thể loại chung.
Hệ thống chữ Trung Quốc hiện đại là Hieroglyphics cũng như các hệ thống chữ Ai Cập cổ, chữ hình nêm (cuneiform) của người Sumer và các hình tượng cổ tại châu Mỹ.
Xem Arabic numerals
Thông tin được gắn (embedded) vào phông để tăng cường sự hiển thị của chữ được in hoặc chữ ở độ phân giải nhỏ (72 – – 600dpi). ATM và Truetype có lợi thế Hints để tạo ra (render) phông trên màn hình thống nhất thông qua các bộ ký tự.
Tất cả các phương pháp Hinting đều cố gắng tạo những nét outline của chữ trùng với những điểm ảnh, hoặc điểm hạt máy in nhằm hiển thị chữ nhìn chất lượng tốt nhất.
Hintting là một cách tiếp cận với vấn đề răng cưa khi co kéo kích thước chữ. Nó là một quá trình đặc biệt để cải thiện sự hiển thị trên các thiết bị có độ phân giải thấp.
Một thành phần của hệ thống cơ khí để tạo chữ.

Dạng chữ Humanist là những dạng chữ có nguồn gốc giữa thời kỳ Phục Hưng tại Ý. Chúng có hai loại: Roman dựa trên chữ Script Carolingian, và dạng italic (nghiêng) xuất hiện lần đầu tiên vào thế kỷ 15.
Dạng chữ Humanist thể hiện rõ dấu vết của ngòi bút rộng được viết bởi người thuận tay phải. Chúng nằm trong khối vuông và trục nghiêng. Một số Humanist giống như kiểu chữ Venetian và có đặc trưng là trục xiên chéo ở chữ "e".

Một nhóm phụ của kiểu Sans Serif ảnh hưởng bởi Humanist và dạng chữ roman Aldine.

Một nhóm phụ của kiểu Slab Serif (Chữ chân lớn) ảnh hưởng bởi Humanist và dạng chữ roman Aldine.

Một dấu được sử dụng trên nguyên âm o và u tại Hungary và một số ngôn ngữ khác.
Hyphen (gạch nối bằng với gạch nối của chữ A)

Một dấu gạch ngang được sử dụng trong một số từ ghép, giống như gastro-intestinal (dạ dày-ruột), seventy-five và mother-in-law. Gạch nối này cũng được sử dụng để chia một từ khi nó cần xuống dòng.
Hyphen còn có thể xuất hiện giữa các âm tiết. Com-pound thì đúng, trong khi Compo-und thì sai.
Nguồn Paratype
iDesign Must-try
Paul Cézanne — Quá trình của Sự thấy - (Phần 7)
Hiếu Y: ‘Mình thấy hiếu kỳ với cách mọi người cảm nhận cái đẹp’
Gamification trong thiết kế và những điều bạn cần biết! (Phần 2)
Thời kỳ Victoria (Phần 1): Tóm lược và lịch sử
