Semi Bold: Một độ đậm/trọng lượng của chữ, nằm giữa Book và Bold. Nó đậm hơn, nặng hơn kiểu thông thường, có liên hệ với các kiểu roman.

Những chữ được dịch đủ sẽ có link (thể hiện bằng màu xanh).

Click vào hình để xem lớn.

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z

S

Sans Serif Semicolon Size Sort

Sc

Serif Skoropis Space
Schwabacher Set-width Slab Serif Spine
Screen font Shaded Slanted Spline
Script Shade rule Slash Spur
Section Mark Shoulder Slope Stem
Semi Bold Sidebearings Smal Capitals Stress
Stroke Style Subscript Superior

Superscript

Swash Symbol

Sans Serif

Xem chi tiết tại đây.

Sc

Xem small capt

Schwabacher

Một dạng chữ blackletter. Tên tiếng Đức là Bastarda.

Screen font

Những phông chữ dạng bằng các điểm bitmap sử dụng cho màn hình hiển thị.

Script

Kiểu chữ Script được thiết kế dựa trên lối chữ viết tay; nhưng nó có thể đa dạng với các loại ngòi bút, bút sắt, bút lông , đồng thời nó cũng khác với những kiểu script hiện đại.

Một số kiểu script dựa trên nét bút sắt bao gồm Shelley (Carter 1972), Coronet (miđleton, 1937-38), và Snell Roudhand (Carter 1965, dựa trên Snell khoảng 1694).

Những mặt chữ Script dựa nhiều vào những ngòi bút rộng truyền thống, như Park Avenue (Smith 1933). Ngoài ra còn có Script monoline, kém tương phản giữa các nét.

Những mặt chữ viết bằng bút lông nhìn như được vẽ bằng nhạc cụ. Một số chữ thì nhìn giống như các chữ ký trên các bức tranh, như Balloon (Kaufmann 1939), Brush Script (Smith 1942) và, và Dom Casual (Dom 1952).

Những chữ bằng bút lông cũng là nền tảng cho kiểu chữ Script, như Present Script (Sallaway 1947), và Mistral (Excoffon 1953).

Mặc dù kiểu chữ hiện đại bị coi là "hạng hai" khi thường bị loại bỏ kiểu in nghiêng và phụ thuộc vào Roman, vẫn còn một số chữ được thiết kế nghiêng về bên phải theo cách của riêng nó.

Tốt nhất là Zapf Chancery (Zapf 1979), một số khác có Medici Script (Zapf 1947) và Poetica (Slimbach 1992).

Section Mark

Một ký hiệu được tạo từ hai chữ “s”, được sử dụng chủ yếu trong các tài liệu chính thức như số điều luật, và các đạo luật nếu văn bản bị chia thành các phần.

Semi Bold

Một độ đậm/trọng lượng của chữ, nằm giữa Book và Bold. Nó đậm hơn, nặng hơn kiểu thông thường, có liên hệ với các kiểu roman.

Semicolon - Dấu chấm phẩy

Một dấu ngữ pháp, kết hợp giữ dấu chấm và dấu phẩy, xuất phát từ Châu Âu. Trong các văn bản Hy lạp cổ, dấu chấm phẩy được sử dụng như một dấu hỏi.

Serif

Xem thêm tại đây.

Set-width

Độ rộng của chữ và những vùng không gian quanh nó; không gian cần thiết để đặt các chữ trong một kiểu chữ đặc biệt. Một số chương trình có ứng dụng để thay đổi kiểu chữ để làm nó lỏng hơn hoặc chặt hơn. Còn được gọi là “advance width”.

Shaded

Một kiểu chữ trang trí. Trong shaded type (chữ có bóng) có những thứ giống như bóng đổ về hướng Đông Bắc. Những bóng này thường là màu đen, với các đường viền chữ đen hoặc bất kỳ màu nào khác. Điều này giúp tạo cho chữ có bóng một cảm giác 3D.

Shade rule

Một thước đo gồm nhiều đường kẻ dọc.

Shoulder

Trong chữ dập (nổi, chìm), nó là một miếng kim loại nằm trên mỗi khuôn chữ. Phần vai hỗ trợ việc tạo khoảng cách (kern) với các khuôn (chữ) liền kề.

Sidebearings

Khoảng cách giữa phần bắt đầu và cạnh trái của một chữ (left sidebearing) và khoảng cách giữa dòng ngoài cùng bên phải và cạnh phải của một chữ (right sidebearing).

Size (của chữ)

Khoảng cách giữa các dòng liền kề của chữ, không có thêm không gian thêm (leading) giữa chúng. Các chữ được thiết kế để xác định không gian tổng thể mà nó sẽ chiếm khi in.

Skoropis'

Nghĩa đen nó có nghĩa là viết nhanh. Kiểu viết tay Running Cyrillic phát triển vào thế kỷ 14 và phát triển mạnh mẽ vào thế kỷ 17. Nó được sử dụng chính thức cho công việc hay thư từ cá nhân.

Có vài biến thể dựa trên sự chỉ định (chính quy, văn phòng, dân sự) và địa điểm (moskovskaya, vilenskay, kiyevskaya).

Những ví dụ tốt nhất mang phong cách thư pháp cao. Các chữ dựa trên những ký tự của chữ thư pháp (calligraphic) như hình dạng tròn, nét mềm, các nét bay bướm, các chữ viết tắt, ligatures.

Thông thường phân biệt bởi các phần counter nhỏ tại các chữ lowercase, ascender và descender dài, những chữ Hoa (uppercase) kích thước lớn. Không dễ để dịch từ script ra chữ vì nhiều nét bay bướm và ligature.

Slab Serif

Một chân abrupt hay adnate dày, đôi khi nó có cùng bề dày với nét chính của chữ. Slab Serifs là những đặc điểm của Egyptian và Clarendon: Hai nhóm đại diện cho thời kỳ Hiện Thực và ra đời nhiều phông chữ từ đầu thế kỷ 19. Memphis, Rockwell và Serifa là những ví dụ.

Slanted

Xem Oblique

Slash

Một nét nghiêng được sử dụng để phân chia trong từ điển và ngôn ngữ học. Các luật sĩ thời trung cổ sử dụng nó như dấu phẩy. Slash không nên nhầm lẫn với fraction bar hay solidus.

Slope

Một góc nghiêng của phần thân và phần mở rộng của chữ cái. Không nên nhầm lẫn với axis (trục). Hầu hết (không phải tất cả ) slope nghiêng về bên phải trong khoảng 2 và 20 độ.

Small Capitals (small caps, SC)

Một bộ các chữ viết HOA có cùng chiều cao như x-height (thực tế chúng cao hơn một chút). Small caps thường được sử dụng cho tài liệu tham khảo và từ viết tắt. Nó được biết tới trong các cuốn sách in ở Châu Âu vào thế kỷ 16. Thường được viết tắt là s.c.

Sorts

Những mảnh ban đầu của chữ kim loại. Trong thế giới chữ kỹ thuật số, khi mà các chữ không có sự tồn tại thực tế cho đến khi nó được in ra, sort trở nên đồng nghĩa với character (các chữ).

Nghĩa là, nó có thể giống như mô hình, hay ý tưởng thay vì một sự hiện hữu thực tế.

Space

Không gian chiều ngang, ví dụ, không gian giữa các từ và các chữ trên một dòng, nó thường được đo bằng ems và ens. Một em là một không gian tương đương với kích thước điểm (point size) hiện tại. Một en là một nửa độ rộng của một em.

Vì thế font chữ 12 pt sẽ có 12 pt em và 6pt en, trong khi phông 8pt sẽ có 8pt em và 4pt en. Một space thông thường giữa các từ được để 1/3 của em.

Trong việc sử dụng chữ hợp lý, những khoảng cách giữa các từ nhất thiết sẽ khác nhau. Các cột càng hẹp bề ngang, cần càng nhiều sự thay đổi để tạo nên không gian hợp lý. Đây là một trong những lập luận ủng hộ những đoạn chữ kém hợp lý khi mà chiều dài của dòng rất ngắn.

Lý tưởng nhất là các từ trong các đoạn văn bản thông thường không nên có không gian giữa chúng dài hơn một en hoặc ít hơn ¼ em. Khi gặp không gian hẹp thì thường sử dụng dấu gạch ngang (saparate dash) để chia những từ liền kề.

Không gian giữa chữ ngày nay, được sử dụng dễ dàng và thuận lợi hơn so với thời kỳ còn dùng khuôn chữ, những nó lại hay bị lạm dụng. Khi được sử dụng trong tiêu đề, quan trọng là chia không gian giữa các từ đủ rộng để phân biệt nó rõ ràng. Không gian chữ trong justified text nên sử dụng tiết kiệm.

Spine

Đường cong ở giữa chữ S

Spline

Một đường cong toán học xác định bởi số điểm và có thể kết nối. Nó cũng là tên của công cụ vẽ đường cong.

Spur

Một dấu hiệu nhỏ hơn serif, củng cố vào điểm cuối của một nét cong động ngột, như trong chữ G.

Stem

Một nét chính, không phải là bowl. Chữ “o” không có stem; chữ I gồm stem và serifs độc lập.

Stress

Nhìn vào chữ O là có thể thấy rõ nhất, đồng thời chú ý rằng nếu nét dưới bên trái dày hơn nét trên bên trái, thì nét trên bên phải dày hơn phần nét dưới bên phải, tức là chữ có một stress chéo.

Nếu hai nửa của “o” là những hình ảnh phản chiếu của nhau, với nét hai bên dày hơn nét trên/dưới, thì chữ có một stress đứng.

Nếu trên và dưới của chữ “O” có cùng độ dày giống hai nét bên thì nó không tương phản và không có stress.

Stroke

Một nét có thể tăng chiều rộng; hoặc chiều rộng của một yếu tố tuyến tính tạo thành chữ.

Style

Một trong những cách hiển thị, như italic và bold nó tạo thành những mặt chữ trong một bộ chữ (type family). Có 4 kiểu chữ máy tính cơ bản là Regular, Bold, Italic và Bold italic.

Subscript

Chữ hoặc ký tự nằm hơi thấp dưới đường baseline trong phạm vi của một dòng chữ và thường có kích thước nhỏ hơn.

Superior

Những chữ nhỏ nằm phía trên những chữ khác. Được sử dụng trong toán học và hóa học, dấu tham khảo.v.v.

Superscript

Một chữ nhỏ nằm trên các chữ khác.

Swash

Một kiểu chữ nghiêng, với các nét bay bướm có tính trang trí, thường thấy ở các chữ Hoa hơn là chữ thường.

Symbol

Có thể là bất kỳ hình dạng đồ họa như, chữ, số, dấu, ký hiệu toán học.

T

tabular figures text figures truetype typeface

tail

textura type typeface classification
teardrop tilde type 1
terminal titling figures type alloy
tertia titling type type family
text tracking type foundry
text faces transitional type height

Tebular Figures

Những chữ có khoảng cách bằng nhau (monospaced figures).

Tail – Đuôi

Một yếu tố của một chữ (nhưng không chân) nằm dưới đường baseline. Ví dụ như "đuôi" của chữ Q.

Teardrop (drop, lacrimal terminal)

Một nét cong, như giọt nướ, ở cuối phần arm - vai của chữ như là a, c, f, g, j, r và y. Tính năng này là đặc trưng của những mặt chữ từ cuối thời kỳ phục hưng (Late Renaissance), Baroque và tân cổ điển (Neoclassical).

Hiện nay nó xuất hiện trên rất nhiều mặt chữ dựa trên Baroque hay Tân cổ điển như Jannon, Van Dijk, Kis, Caslon, Fournier, Baskerville, Bell, Wallbaum, Zapf Internation, Galliard.

Nó còn được gọi là Lachrymal, Ball termnial.

Terminal

Phần kết thúc của một nét mà không có chân

Tertia

Một tên cũ cho chữ kích thước 16 pt (~6,33 mm)

Text

Một chuỗi bao gồm các yếu tố đồ họa.

Text Face

Các chữ cho việc sắp đặt, thường ở kích thước 12-16pt. Còn gọi là body faces - chữ phần nội dung.

Text figures

Các số 1 2 3… được thiết kế ngang bằng các chữ thường - lowercase về kích thước và màu sắc. Text figures khác với lining hay titling figures do các số ở lining và titling lớn bằng chữ viết hoa - uppercase.

Textura

Một dạng chữ đậm - blackletter. Phát triển như là chữ thường - book lettering, một kiểu ở thời kỳ Gothic, cao, hẹp, đậm giống như một loại vải dệt, vì thế nó có tên là Textura.

Nó xuất hiện tại Pháp từ thế kỷ 13 và được sử dụng rộng rãi ở Anh và Đức. Textura là mô hình cho các việc chuyển đổi chữ của Johann Gutenberg (ca. 1394 - 1468) được tạo vào khoảng giữa thế kỷ 15.

Tilde

(1) Một dấu lượn sóng nằm trên các chữ, nó xuất hiện trong các nguyên âm ở Estonian, Greenlandic, Portuguese, Việt Nam và phụ âm ở Quechua, Spanish, Tagalog và một số bảng chữ cái khác.

(2) Nó là dấu (~) sử dụng trong toán học như các giá trị sấp xỉ, trong từ điển là dấu hiệu của sự lặp lại.

Titling figures

Các số 1 2 3 4… được thiết kế với chiều cao bằng chiều cao chữ HOA - uppercase.

Titling Type

Một phông chữ gồm toàn chữ Hoa, 24 chữ hoa là lowercase và 24 chữ hoa cao hơn một chút được gọi là uppercase.

Tracking

Không gian tổng thể trong chữ. Tracking được sử dụng để làm hẹp hay nới rộng một khối chữ (block of type). Một số chương trình có tính năng tự động tracking, khi có thể tăng hay giảm không gian giữa các chữ.

Transitional – Chuyển tiếp

Chữ "Transitional" là tên gọi cho những loại chữ nằm trong khoảng giữ các Old Style (cổ điển) và Modern (hiện đại). Các đặc điểm của kiểu chữ Chuyển tiếp - Trasitional là các nét đứng tương phản mạnh với các nét ngang hơn kiểu Old Style.

Ví dụ điển hình có thể kể ra là các chữ của John Baskerville từ năm 1757. Ngày nay chúng ta nhớ tới Baskerville đặc biệt bởi các chữ do ông thiết kế, các chữ sử dụng cho kỹ thuật in rất đẹp và dễ đọc.

TrueType

Một định dạng phông chữ kỹ thuật số phát triển bởi Apple và Microsoft. Một hệ thống tạo hình ảnh (render) cho các phông chữ này có trong System 7.

Nó còn có trong Ms Windows 3.1. Như PostScript Type 1 và Type 3, nó là một định dạng phông outline (các nét viền) có thể dùng cả trên màn hình và in ấn và có thể co giãn kích thước tùy ý.

Type

Tên ban đầu của chữ kim loại, bây giờ là typeface design hay một số typeset text.

Type 1

Các phông PostScript Type 1 – còn gọi là ATM ( Adobe Type Manager), phông outline, nó chứa các thông tin về phông, các nét outline cho phép các máy in postscript, hay ATM chạy ra phông ở các kích thước.

Type 1 hầu hết chứa những thông tin Hinting cho phép các phông được tạo dễ đọc ở độ phân giải nhỏ hay chữ kích thước nhỏ.

Type Alloy

Hợp kim chì, thiếc, các chữ sơ khai của chữ kim loại (metal).

Type family

Một gia đình chữ gồm nhiều kiểu dáng, đậm, nhạt, hẹp, nghiên nhưng vẫn giữ tên và các đặc tính giống nhau. Đôi khi type family có nghĩa giống như Typeface – kiểu chữ.

Type foundry

Ban đầu có nghĩa là các xưởng đúc chữ kim loại, bây giờ nó có là bất cứ nơi nào tạo ra chữ.

Type height

Chiều cao của chữ kim loại từ mặt dưới tới bề mặt in (bề mặt tiếp xúc của chữ). Đừng nhầm lẫn với chiều cao của chữ như x-height hay Cap height

Typeface – Kiểu chữ

(1) Những đặc điểm mà mỗi chữ được nhận ra. Như kiểu chữ Bodoni là một kiểu chữ Hiện đại, trong khi Times News thì thuộc loại Chuyển tiếp.

(2) Một kiểu trong một gia đình chữ. Các kiểu chữ có rất nhiều trọng lượng, tỉ lệ, độ nghiêng, vì thế typeface styles còn được mô tả như Light, Bold, Book, Narrow, Expanded…

Typeface classification – Phân loại kiểu chữ

Nhóm các kiểu chữ để nhận diện dựa trên hình dạng, tương phản, nguồn gốc, phân loại. Không chỉ có một phân loại chữ.Một phân loại có thể cung cấp chữ có chân, không chân, trang trí, viết tay, nhóm bảng chữ cái. Mỗi nhóm thường được phân nhóm dựa trên hình dạng chữ và các yếu tố khác.

Comments

comments

Tags:

  • Batsana

    Học! học nữa học mãi :)

  • Show Comments

  • Dung

    Cám ơn IDesign. Nhờ có IDesign mà tôi sắp hoàn thành quyển tự điểm Typo đầu tiên cho mình.

  • Trần Hoàng

    Thích Typo quá, nhưng chưa làm Typo được :(

Your email address will not be published. Required fields are marked *

comment *

  • name *

  • email *

  • website *

You May Also Like

Week 29: Khởi nghiệp và UX

Khách mời của chúng ta hôm nay là Whitney Hess. Whitney là một chuyên ...

5 cách để tạo một ứng dụng tốt hơn trên iPad

Chúng ta mới trải qua khoảng 2 năm có sự xuất hiện của iPad. ...

50 lời khuyên cho học sinh ngành Graphic Design

Những lời khuyên luôn hữu ích, www.facebook.com/yeuthietke đã dịch và chia sẻ cùng các ...

Microsoft thay đổi hệ thống nhận diện

Microsoft mới đây đã công bố thiết kế mới cho logo của mình. Logo ...

37 tác phẩm typography ấn tượng

Vẻ đẹp của chữ là không có giới hạn. Hãy xem các tác phẩm ...

Bí mật lớn nhất của UX được khám phá!

Tôi là fan hâm mộ lâu năm của Penn và Teller (2 nhà ảo ...